Nhà tù Sơn La - Nơi thắp lửa đấu tranh

Thí sinh Ngô Thị Hiền - Sinh viên CEO Tourist

Có lẽ, nhắc đến nơi ngục tù, ai trong chúng ta cũng sẽ mường tượng tới cảnh bốn bức tường lạnh lẽo và tăm tối bao bọc cuộc sống vô vọng của những kẻ tù tội. Thế nhưng không, nhà tù Sơn La – một nơi mà được ví như “ chiếc quan tài nắp mở, chỉ đợi tù nhân tắc thở đem chôn” lại chính là nơi thắp lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng rực sáng khắp núi rừng Tây Bắc, trở thành một trường học cách mạng vĩ đại. Những khổ sai của bọn thực dân đầy đọa chiến sĩ cách mạng ta không những không làm nhụt chí mà còn tôi luyện lên những tinh thần thép, những trái tim quả cảm hơn bao giờ hết.

Nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây dựng trên ngọn đồi Khau Cả bên dòng suối Nậm Na vào năm 1908. Ban đầu nhà tù có diện tích 500 m2, năm 1940 thực dân Pháp mở rộng lên 1700 m2.  Xây dựng nhà tù này thực dân Pháp đã biến nơi đây thành một “ địa ngục trần gian” để giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người cộng sản Việt Nam. Trong 15 năm từ năm 1930 đến năm 1945 nhà tù Sơn La đã giam giữ 1007 lượt tù nhân cộng sản trong đó có nhiều đồng chí là thành ủy , sứ ủy, trung ương ủy viên như Lê Duẩn, Trường Trinh, Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Hiệu, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Xuân Thủy, Lê Thanh Nghị và biết bao đồng chí kiên trung khác. Vượt lên trên gông cùm và tội ác của thực dân Pháp, những người cộng sản Việt Nam đã biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, biến những phòng giam lạnh lẽo thành tổ ấm, thắm tình đồng chí của các bạn tù. 

Năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xóa đi dấu vết tội ác của chúng, lần 2 vào năm 1965, đế quốc Mỹ đã đánh phá Thị xã Sơn La phá hủy một phần của nhà tù. Nhưng di tích lịch sử này vẫn còn lưu lại một số hiện vật và phòng giam lột tả được sự gian ác của chính quyền thực dân và sự kiên trung của những chiến sĩ cộng sản. 

Mặc cho chế độ nhà tù cực kì hà khắc và thủ đoạn tra tấn vô cùng dã man, tàn độc nhưng thực dân Pháp không thể làm lung lay ý chí cách mạng của những người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Vào những năm 1930, khu đồi Khau Cả rất âm u, heo hút,  thời tiết khắc nghiệt, thực dân Pháp lợi dụng nơi rừng thiêng nước độc để xây dựng nhà tù và biến nhà tù Sơn La trở thành địa ngục trần gian để giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người cộng sản Việt Nam. Vào mùa hè, các phòng giam nơi đây giống như lò nung bởi gió Lào tràn về, còn mùa đông lại biến thành một ngăn tủ lạnh vì khí hậu giá rét nơi miền biên ải. Với địa thế của một nơi “lam sơn chướng khí”, “rừng thiêng nước độc”, bệnh sốt rét luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng không chỉ đối với các tù nhân, mà còn đối với cả người dân sở tại. Chính vì vậy, trong một lá thư mật gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ, Công sứ Sơn La Xanhpulôp đã viết: “... Xin ngài cứ tiếp tục gửi chính trị phạm lên Sơn La. Bọn này nếu ở Hỏa Lò là những hạng hung hăng khó trị thì rồi đây lên tới Sơn La, chỉ trong vòng sáu tháng thôi, vi trùng sốt rét sẽ làm cho chúng suy nhược và trở nên hiền hòa”. Lúc bấy giờ, bọn chúng còn dùng những thủ đoạn dụ dỗ dân chúng rằng, ai lấy được đầu một tù nhân cộng sản trốn thoát sẽ được thưởng 20 đồng bạc trắng và 5 tạ muối. Bọn chúng răn đe tù nhân: “Đừng tìm cách trốn thoát, bởi thổ dân sẽ đem đầu các anh về để đổi lấy muối! ”. Nếu ở Hỏa Lò các anh lo đối phó với chính phủ thì lên Sơn La các anh phải lo đối phó với sốt rét. Chế độ tù đày ở chốn “địa ngục trần gian” khắc nghiệt đến mức tù nhân viết thành thơ mô tả:

“Nằm bên nhà xác xa vài bước

Ngửi cứt cầu tiêu suốt bốn mùa”

Nhưng một điều mà chúng không thể ngờ rằng, chính nơi đây các chiến sĩ cộng sản đã tổ chức biến nhà tù trở thành trường học cách mạng, là nơi ươm những  hạt giống đỏ để phong trào cách mạng ở Tây Bắc đơm hoa kết trái sau này. Bên cạnh đó nhiều quần chúng tốt được giác ngộ cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Tiêu biểu là Lò Văn Giá - một thanh niên người dân tộc Thái đã mưu trí dũng cảm dẫn đường cho đoàn tù vượt ngục thành công. Hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La gắn liền với tên tuổi của nhiều đảng viên cộng sản trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của đồng chí Tô Hiệu. Vì bị bệnh lao phổi nặng, làm Bí thư Chi bộ Nhà tù Sơn La trong một thời gian ngắn, nhưng đồng chí Tô Hiệu đã xóa bỏ chủ trương “cấm vượt ngục” của Chi bộ sau cuộc trốn thoát thất bại của hai đồng chí Đàm Văn Lý và Đàm Văn Sàng. Bởi lẽ, vượt ngục ra ngoài là nhiệm vụ cấp bách nhằm “cung cấp cán bộ” cho phong trào cách mạng đang lên. chi bộ bí mật ra Báo Suối Reo, công khai tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ ngay trong nhà tù để tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng cho binh lính và vợ con họ

Sau ngày hòa bình thống nhất năm 1980 bảo tàng tỉnh Sơn La bắt đầu phục chế lại nhà tù xây dựng lại một số đoạn tường rào bao quanh phục chế lại hai tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn gia cố lại hầm ngầm, xà lim ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Đặc biệt là cây đào mang tên đồng chí Tô Hiệu vẫn được giữ nguyên và chăm sóc cẩn thận, nhắc nhở mọi người về tinh thần bất khuất kiên trung của đồng chí Tô Hiệu và con người nơi đây. Trong 1007 lượt tù nhân bị giam cầm ở nhà tù Sơn La, hiện nay Bảo tàng Sơn La đã sưu tầm và lưu giữ 250 hồ sơ gốc của tù nhân; danh sách 61 liệt sĩ; danh sách 870 tù nhân, danh sách 180 người đã được rèn luyện, thử thách ở nhà tù Sơn La và sau này giữ chức vụ cao của Đảng và Nhà nước. Theo tổng kết của đồng chí Nguyễn Văn Trân – Trưởng ban liên lạc nhà tù Sơn La. Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, nhà tù Sơn La được giải phóng, đã cung cấp cán bộ lãnh đạo Cách mạng Việt Nam cho cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam và trên mọi lĩnh vực.

Nơi đây giờ đã trở thành một điểm thu hút nhiều đối tượng khách trong và ngoài nước đến thăm quan, nghiên cứu đặc biệt là vào các ngày lễ lớn. Du khách đến đây không chỉ trải nghiệm, hồi tưởng lại công cuộc đấu tranh anh dũng kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc của lớp lớp cha anh mà từ đó nhắc nhở bản thân mình và các thế hệ con cháu hãy sống, làm việc, học tập sao cho xứng đáng với sự hi sinh cao cả của thế hệ đi trước.